Hệ thống dạy ngôn ngữ cho phụ huynh có trẻ chậm nói , tự kỷ

Giúp trẻ tự kỷ điều hòa cảm giác

1. Giác quan là gì?

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta tiếp nhận thông tin từ môi trường sống qua hệ thống các giác quan. Hệ thống đó có 7 giác quan, bao gồm;

- Vị giác

- Xúc giác

- Khứu giác

- Thị giác

- Thính giác

Giác quan giúp cho con người điều khiển một bộ phận nào đó của cơ thể để thích ứng với môi trường bên ngoài.

Giác quan giúp cho con người giữ được sự thăng bằng và ước định khoảng không chung quanh để di chuyển.

 

15

 

2. Điều hợp các giác quan.

Điều hợp các giác quan là khả năng mỗi người tiếp nhận thông tin bên ngoài từ những giác quan khác nhau và sau đó xử lý, phản ứng với những thông tin với thái độ thích hợp. Quá trình này diễn ra một cách rất tự nhiên.

3. Tầm quan trọng.

Khả năng của mỗi người trong việc xử lý các thông tin bằng các giác quan một cách đầy đủ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, học tập và hành xử của họ. Đó là vì tất cả những thông tin mà họ tiếp nhận được qua các giác quan cho phép họ hiểu được môi trường sống xung quanh và hoàn thành những công việc hàng ngày.

Trẻ tự kỷ thường có những khó khăn nhất định trong việc điều hợp các giác quan do hệ thống tổ chức xử lý thông tin hoạt động kém hiệu quả. Những thông tin từ các giác quan sẽ được xử lý một cách khác thường và kết quả là nó được biểu hiện qua những hành vi khác thường. Điều tối quan trọng là phải nhận biết và nâng cao khả năng điều hợp của các giác quan với những người tự kỷ. Điều này có thể đạt được qua những cách thức can thiệp và qua trị liệu Vận động - Occupational Therapy.

 

4. Vai trò của trị liệu Vận động ( Occupational Therapy) trong việc nâng cao khả năng điều hợp các giác quan.

*Occupational Therapy là kỹ năng và phương thức luyện tập để giúp cho cơ thể được cân bằng và nâng cao chất lượng trong việc hợp nhất các giác quan.

Nền tảng kiến thức và việc luyện tập trong giao tiếp xã hội, sinh lý học, tâm thần học, sự phát triển của con người, học tập và hành xử được dặt trên nền tảng điều hợp các giác quan.*

Khi làm việc với trẻ tự kỷ, nhân viên trị liệu Vận động sẽ đưa ra những chương trình riêng biệt cho từng trẻ bao gồm những hoạt động và cách thức thực hiện để nhằm khắc phục sự rối loạn chức năng của các giác quan. Mục đích tổng quát của việc can thiệp này là:

- Nhận biết những khó khăn cụ thể trong quá trình hoạt động của các giác quan.

- Đưa ra những hoạt động để tạo thêm các chức năng mà trước đây các giác quan của trẻ không có

- Đưa ra những cách thức và hoạt động để bổ sung những chức năng cần thiết cho các giác quan nhằm giúp trẻ có những hành vi phù hợp với xã hội bên ngoài

- Đưa ra những gợi ý cũng như những thông về các dụng cụ nhằm giúp phát triển những chức năng cần thiết của các giác quan.

- Làm việc với trẻ hay với gia đình của trẻ để duy trì chức năng của các giác quan nhằm đáp ứng những như cầu cần thiết của trẻ.

 

Giúp trẻ tự kỷ điều hòa cảm giác

 

5. Sự thay đổi trong phản ứng của các giác quan.

Dựa vào từng mức độ của trẻ tự kỷ, mỗi trẻ có thể có những phản ứng khác nhau ở mọi mặt. Ví dụ, một trẻ có thể thấy được áp lực rất lớn qua những cái ôm, trong khi những trẻ khác thấy e ngại trước những hành động như vậy.

Một số trẻ có thể có những phản ứng thái quá trước những thông tin được đưa tới, trong khi một số khác lại rất ít phản ứng. Việc một trẻ vừa có những phản ứng thái quá, lại có lúc không phản ứng gì trong những thời điểm khác nhau cũng không có gì là bất thường.

 6. Những phản ứng thái quá cũng như những phản ứng yếu có ý nghĩa gì trong việc đáp ứng lại những thông tin đưa tới giác quan?

Phản ứng thái quá chính là sự lảng tránh của các giác quan, trong khi những phản ứng yếu ớt là khi các giác quan vẫn phải tìm kiếm thông tin.

Phản ứng thái quá: Trẻ có thể thể hiện những hành vi cho thấy trẻ đang phản ứng thái quá trước những thông tin. Điều đó có nghĩa trẻ phản ứng lại ở một mức độ cao hơn bình thường. Ví dụ, khi trẻ có những phản ứng thái quá về xúc giác, trẻ sẽ thấy khó chịu khi chạm vào vật nào đó hoặc ghét phải chải tóc, rửa mặt. Bạn có thể khiến trẻ bình tĩnh trở lại để làm dịu đi những phản ứng đó.

Phản ứng yếu: Trẻ có thể có những phản ứng yếu ớt trước những thông tin được đưa tới. Điều đó có nghĩa trẻ phản ứng lại ở một mức độ thấp hơn bình thường. Ví dụ như trẻ có những phản ứng yếu về xúc giác, trẻ sẽ luôn muốn ôm, chạm vào mọi vật hay đập đầu vào đâu đó. Đôi khi sẽ có những cách thức nhằm gia tăng nhận thức và phản ứng trước những thông tin được đưa tới. Những kế hoạch này thường được gọi là phương thức " 'đánh thức' các giác quan.

 

14_1

 

Một số ví dụ để bạn có thế thấy những biểu hiện của trẻ khi trẻ có những phản ứng thái quá hay có những phản ứng yếu đối với mỗi giác quan. Trong đó cũng có những cách thức để hỗ trợ từng giác quan.

 

Những phương thức được nói tới sẽ hướng dẫn chúng ta giúp con mình, chứ không bảo đám có hiệu quả trong mọi trường hợp.

 

1.Thính giác.

Giác quan này sẽ nhận biết và xử lý âm thanh

** Phản ứng yếu:

- Không phản ứng trước những tiếng động lớn

Phương pháp:

- Giới thiệu hay cho trẻ nghe những bản nhạc với nhiều nốt cao và âm điệu khác nhau.

- Nói với trẻ bằng nhiều giọng khác nhau.

- Giới thiệu cho trẻ những đồ chơi hoặc đồ vật tạo ra tiếng động

** Phản ứng thái quá:

- Có thể nghe những âm thanh cao hơn bình thường

- Trẻ có thể có khó khăn trong việc lắng nghe một số âm thanh nhất định và cố che tai lại để không nghe thấy.

- Có những âm thanh gây khó chịu như tiếng máy hút bụi, tiếng của đám đông (trung tâm mua sắm), tiếng nhạc lớn thình thình, tiếng còi máy, tiếng máy sấy tay, tiếng máy cắt cỏ và tiếng kính vỡ.

Phương pháp:

- Trò chuyện nhẹ nhàng với trẻ, không đe dọa, có thể thầm thì

- Hát bài hát mà trẻ thích. Hãy hát bằng giọng nhẹ nhàng

- Giới thiệu và mở những bài hát êm ái, ví dụ như nhạc cổ điển.

- Khuyến khích trẻ che tai lại bằng vật dụng che tai hoặc sử dụng máy nghe nhạc.

- Nếu như không tránh được những âm thanh đó, hãy cho trẻ cái gì đó để nhai, mút, để làm xao lãng sự tập trung vào tiếng ồn đó.

 2. Xúc giác.

Giác quan này là sự động chạm bên ngoài tới làn da của trẻ. Giác quan này cho phép trẻ nhận ra sự nguy hiểm như những vật nhọn hoặc nhiệt độ bất thường. Do đó giác quan này đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ bản thân.

** Phản ứng yếu

- Ít phản ứng trước những cơn đau.

- Mong muốn được tiếp cận trực tiếp bên ngoài, ví dụ rõ nhất như luôn muốn được ôm.

- Không nhận thức được khi có ai đó chạm vào hoặc kéo lại.

- Luôn tìm kiếm để sờ vào những chất liệu khác nhau như gạo, lụa.

- Luôn tìm cách tự làm đau bản thân như đập đầu vào tường, tự cào cấu, cắn vào tay hoặc giật tóc.

- Muốn nằm lên người khác hoặc đồ vật nào đó.

Phương pháp:

- Vỗ nhẹ nhàng lên lưng hoặc cánh tay

- Cù

- Khuyến khích trẻ cầm nắm vật gì đó trong tay

- Đưa cho trẻ những vật lạnh

- Cọ nhè nhẹ lên da với tốc độ nhanh

- Tham gia vào những hoạt động có áp lực lớn

 

** Phản ứng thái quá:

- Phản ứng mạnh mẽ trước những động chạm bên ngoài như ôm ấp.

- Không thích thay quần áo hoặc có những vật gần với thân thể.

- Khó chịu khi gội đầu, chải tóc hay cắt tóc.

- Tránh xa một số loại thức ăn cố định nào đó, ví dụ như bị nôn

- Tránh xa một số vật liệu nhất định, nhưng không thích vẽ bằng tay hay chơi với bột bánh.

- Không thích cảm giác của những vật khác nhau tạo ra dưới chân như cỏ, xi măng và luôn muốn đi giày

Phương pháp:

- Vỗ mạnh vào lưng

- Ôm trẻ khi được phép

- Áp lên tay, chân những áp lực lớn như nắm tay, hoặc dùng những vật nặng

- Khuyến khích trẻ mặc hoặc cầm nắm những vật chắc chắn và nặng

- Khuyến khích trẻ mặc đồ sát người.

- Quấn trẻ vào khăn tắm. Đảm bảo không làm khó thở và máu khó lưu thông

- Khuyến khích trẻ cầm hoặc ôm một chiếc gối

- Thực hiện những động chạm về cơ thể càng nhiều càng tốt.

 3.Thị giác.

Hành động nhìn của mắt

** Phản ứng yếu

- Không thấy được sự hiện hữu của vật hoặc người trong tầm nhìn

- Tỏ ra ít thích thú khi chơi đồ chơi hoặc những thứ khác

- Có khó khăn trong việc phân biệt đồ vật

- Cảm thấy khó chịu khi sàn nhà thay đổi như chuyển từ sàn đá sang thảm

- Tránh nhìn thẳng vào mắt người khác

Phương pháp

- Thực hiện các hoạt động dưới ánh sáng

- Dùng những vật kích thích thị giác như màu nước hay lấp lánh

- Làm nổi bật những thứ trẻ thích bằng cách đặt chúng dưới ánh sáng.

 

** Phản ứng thái quá

- Có khó khăn trong việc nhìn vào mọi vật và sẽ che mắt lại

- Nhìn chằm chằm vào những chi tiết nhỏ như vết mực trên tường hay chấm nhỏ trên sàn nhà

- Khó chịu khi có những thay đổi về không gian sống như thay đổi cách bài trí nội thất trong phòng

- Chỉ thích những vật gây kích thích nhất định, ví dụ như những vật màu sáng hoặc lấp lánh

Phương pháp

- Bỏ đi những màu sắc tươi sáng khỏi không gian sống

- Khi cần sáng thì nên dùng ánh sáng dịu nhẹ

- Bỏ đi những vật làm loãng tầm nhìn, hãy dùng màn che

- Tránh dùng những màu sắc chói chang, ví dụ hãy dùng màu trắng thay vì màu vàng

 

4.Vị giác và khứu giác.

Vị giác giúp chúng ta cảm nhận hương vị khi đặt thứ gì đó lên lưỡi.

Khứu giác giúp chúng ta cảm nhận được mùi vị qua mũi, có quan hệ chặt chẽ với hệ thần kinh trung ương.

** Phản ứng yếu

- Có thể không nhận biết được mùi vị của món ăn

- Khám phá mọi vật bằng cách đưa vào miệng hay ngửi.

Phương pháp

- Giới thiệu những món ăn có hương vị đậm đà trong khẩu phần ăn của trẻ, ví dụ như những món mặn hoặc chua.

- Giới thiệu những hoạt động cho phép trẻ khám phá những hương vị và mùi vị khác nhau. Ví dụ như đưa ra những chiếc hộp để ngửi hoặc nếm, bên trong là những hương vị hoặc mùi vị mạnh.

- Thường xuyên thay đổi mùi hương mới trong nhà, như những hương khác nhau của nước hoa khô, dầu gội khác hoặc dầu thơm.

 

** Phản ứng thái quá

- Đưa mũi ra ngửi bất cứ thứ gì trong tầm nhìn

- Khám phá mọi vật bằng miệng với những hành động liếm, nhai hoặc mút.

- Khó chịu khi phải làm quen với mùi hương mới, ví dụ như xà phòng có mùi mới.

- Có thể hay bị nôn khi ăn.

Phương pháp

- Những lúc có thể hãy tránh nếm hoặc ngửi những món ăn có mùi hương mạnh. Thay bằng những thứ có mùi nhẹ nhàng hơn.

- Tránh những nơi có mùi hương đặc trưng và nồng. Ví dụ như gian hàng bán nước hoa ở siêu thị.

Sử dụng những đồ vật trong nhà ít mùi, tránh dùng nước hoa và nước hoa khô.

 

5. Khả năng kiểm soát cơ thể và giữ thăng bằng.

Hai giác quan này làm việc cùng nhau tạo nên hệ thống hoạt động. Hệ thống này có thể bao gồm những hoạt động như đi lại, chạy nhảy, đu đưa, mang vác, kéo đẩy.

** Phản ứng yếu

Kiểm soát cơ thể

- Thiếu hợp tác trong hoạt động thường ngày

- Không thể giữ nguyên tư thế trong một khoảng thời gian dài, như ngồi yên một chỗ.

- Dễ chán

- Không kiên trì hợp tác trong những công việc nâng lên hạ xuống

- Cảm thấy lo lắng, sợ hãi trong nhiều tình huống

- Khó khăn trong học viết

- Hay lừ đừ hoặc gục mặt xuống

Giữ thăng bằng

Trẻ lúc nào cũng muốn chạy nhảy

- Rất hiếu động trong mọi mặt đời sống

- Tự quay quanh mình

- Hay quay tròn những đồ vật

- Hay lắc lư thân mình

- Đi nhón chân

Phương pháp

Tham gia những hoạt động yêu cầu phải chạy nhảy, nhảy lò cò nhằm tạo sự thay đổi tư thế.

Ngồi lên quả bóng tập hoặc quả bóng trị liệu và khuyến khích họ lắc lư hông

Tham gia những hoạt động yêu cầu phải nhún nhảy, ví dụ như nhảy dây, tập nảy cùng quả bóng trị liệu.

Khuyến khích trẻ tham gia tích cực vào những hoạt động xảy ra hàng ngày trong gia đình. Ví dụ như lấy thư từ hòm thư.

Chơi những trò chơi khuyến khích trẻ kéo đẩy ở một mức độ trung bình, ví dụ như chơi kéo co.

Mặc những chiếc áo gi-lê nặng hoặc ôm những chiếc gối nặng trong một thời gian ngắn.

Áp lực mạnh lên cơ thể để nâng cao nhận thức. 

6. Chế độ 'dinh dưỡng' cho các giác quan.

Chế độ 'dinh dưỡng' này muốn nói về những loại hình đặc thù và lượng thông tin cần được đưa tới các giác quan của trẻ để giúp trẻ tập trung, có kỹ năng và có thể khả năng thích nghi và bình tĩnh trong nỗ lực vươn tới những công việc hằng ngày. Chế độ này cũng giống như chế độ dinh dưỡng trong ăn uống, chúng ta sẽ ăn những món khác nhau trong những nhóm dinh dưỡng khác nhau để đạt được cuộc sống khỏe mạnh.

Chế độ 'dinh dưỡng' cho các giác quan được đưa ra bao gồm sự kết hợp giữa các phương pháp báo động, phương pháp trấn tĩnh cũng như cách tổ chức các hoạt động cho phép trẻ đáp ứng được nhu cầu của các giác quan.

Chế độ ăn kiêng cho các giác quan mang tính cá nhân, và được đặc biệt thiết kế bởi nhân viên trị liệu

Hotline: 0942 005 669